CHƯƠNG
III
Từ cuộc chiến chống CIA đến người tù của Khơ Me Đỏ
Cuộc đảo chính do
CIA chủ mưu.
Sáng 13 tháng 3 năm 1970, khi tôi
đang chuẩn bị đáp máy bay rời Paris đi Matxcơva, một cố vấn thân cận cùng ngồi
trong xe trên đường ra sân bay đã nói vui:
- Kính thưa Xamđec, ta không nên xuất hành vào ngày hôm nay, vì là ngày 13, lại
cũng là thứ Sáu, một ngày rất xấu!
Vì không mê tín dị đoan nên tôi chỉ
cười đáp lại và vẫn cứ đi gặp các vị lãnh đạo Liên Xô đúng như chương trình đã
định. Năm ngày sau, giữa lúc tôi đang ở Matxcơva, bọn Lon Nol, Sirik Matak ở
nhà đã truất phế tôi. Thứ Sáu ngày 13 quả là một ngày rất xấu?
Trở lại ngày 13 tháng 3 năm 1970, khi tôi bay tới Matxcơva đã thấy Chủ tịch
Xô-viết tối cao Pôtgorny chờ đón tại sân bay nhưng không có nghi lễ vì chúng
tôi đã thoả thuận, đây chỉ là chuyến đi bình thường với tư cách cá nhân, không
phải là một chuyến thăm chính thức. Sau khi chào đón tôi, Chủ tịch Pôtgorny nói
thêm:
- Thưa Xamđec, ngài có thể nghỉ lại
Matxcơva đêm nay nếu ngài muốn, nhưng sáng mai nên quay trở về Phnompenh. Chúng
tôi rất tin tưởng ở ngài, Hoàng thân Sihanouk. Nhân dân Campuchia đang cần có
một vị Quốc trưởng như ngài, vì vậy ngài nên quay trở lại ngay đất nước mình để
trực tiếp nắm giữ vận mệnh Campuchia. Ngài hãy lưu tâm, đừng để Campuchia rơi
vào tay bọn Lon Nol, Sirik Matak, đừng để Campuchia bị lôi cuốn vào các mưu đồ
của đế quốc Mỹ, đừng để bọn Lon Nol, Sirik Matak gây khó khăn cho nhân dân miền
Nam Việt Nam đang dũng cảm chiến đấu giải phóng đất nước mình.
Tôi trả lời, sẽ nghiên cứu rất
nghiêm chỉnh mọi vấn đề có liên quan đến tình hình hiện nay.
Đúng là từ đầu tháng 3, giữa lúc đang còn
dưỡng bệnh ở Pháp, tôi đã được tin trong nước đã xảy ra những vụ biểu tình
chống người Việt ở tỉnh Vây Riêng, và cũng đã được báo cáo, chính Lon Nol lúc
đó đang giữ chức Thủ tướng là kẻ chủ mưu. Đến ngày 11-3-1970 tôi lại được tin
một đám người nói là sinh viên và học sinh trung học đã tiến công Đại sứ quán
Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Sau đó vài giờ, bọn
này tiến công cả Đại sứ quán Việt Nam dân chủ cộng hoà ở Phnompenh. Sau đó, tôi
nhận được thêm chứng cớ đây chính là hành động của binh lính mặc thường phục,
dưới sự đạo diễn của Lon Nol và cả của em trai ông ta là đại tá tham mưu trưởng
cũng mang tên là Lon Nol. Đây không phải là những cuộc biểu tình “bột phát” như
báo chí phương Tây và vô tuyến truyền hình Mỹ đã đưa tin. Bởi vì những biểu ngữ
đều viết bằng tiếng Anh, điều hiếm thấy trong nước tôi khi có cuộc biểu tình
tuần hành trên đường phố.
Các phóng viên báo chí, quay
phim, chụp ảnh đều được báo trước, theo kịch bản đã dàn sẵn.
Ngay khi biết tin các sứ quán nói
trên bị tiến công, từ Paris tôi đã gửi một bức điện tới Mẫu hậu, mẹ tôi, tức
Thái hậu Sisowath Kôssamắc Nearireath, là vợ goá của Cựu vương Norodom
Xuramarit thân sinh ra tôi, trong đó tôi cực lực lên án những cá nhân đã đặt
lợi ích riêng của bản thân và đồng bọn lên trên tương lai của đất nước và vận
mệnh của dân tộc. Tôi cũng đã cảnh báo với Thái hậu về một âm mưu đảo chính của
cánh hữu, đồng thời báo tin tôi sẽ trở về đương đầu với bọn chủ mưu. Ngày
10-3-1970, tôi cũng đã phát biểu trên Đài Truyền hình Pháp, vạch rõ các thế lực
cánh hữu ở trong nước đang lợi dụng sự vắng mặt của tôi để cố tìm cách thay đổi
đường lối chính trị của Campuchia, lôi kéo Campuchia vào quỹ đạo của Mỹ. Tôi
cũng khẳng định Cục Tình báo trung ương Mỹ gọi tắt là CIA đã có liên hệ chặt
chẽ với cánh hữu Campuchia. Tôi nói: “Nguy cơ của cuộc đảo chính có tránh được
hay không, tất cả phụ thuộc vào quân đội Campuchia”.
Tôi nói như vậy là vì, thật tình
lúc đó tôi mới chỉ nghĩ tới Sirik Matak đang giữ chức Phó Thủ tướng là kẻ chủ
mưu. Lúc bấy giờ tôi hãy còn hoàn toàn tin cậy ở Lon Nol, và nghĩ rằng Lon Nol
sẽ huy động quân đội dập tắt mọi âm mưu lật đổ. Tôi nghi ngờ Sirik Matak, vì
biết rằng sau khi Campuchia lập lại quan hệ ngoại giao với Mỹ vào năm 1969,
Sirik Matak đã có những cuộc tiếp xúc rất thân mật với sứ quán Mỹ ở Phnompenh.
Trong bài phát biểu truyền hình từ Paris, tôi đã báo trước, nếu tôi bị lật đổ,
tình hình Campuchia sẽ rất đen tối.
Sau khi tôi gửi điện trình bày
tình hình với Mẫu hậu, lại bùng nổ thêm những cuộc biểu tình và những hành động
tiến công cộng đồng người Việt ở Campuchia, kể cả việc đập phá những nhà thờ
đạo Thiên Chúa là một việc rất xa lạ với nền văn hoá Phật giáo và những truyền
thống từ bi độ lượng của đất nước Campuchia chúng tôi. Một lần nữa, tôi lại
nhận được những báo cáo rất đáng tin cậy cho biết, những vụ đập phá này hoàn
toàn do binh lính mặc thường phục giả làm dân thường tiến hành. Tôi tự hỏi:
phải chăng cả Lon Nol nữa cũng đang trở mặt, quay lại chống tôi? Tôi không muốn
tin vào điều đó. Bởi vì trong suốt cả phần lớn cuộc đời Lon Nol đều rất gắn bó
với tôi, và tôi cũng luôn luôn coi Lon Nol như cánh tay phải của mình.
Lon Nol luôn tuyên bố trung
thành tận tuỵ với tôi, mà bản thân tôi cũng thấy những lời nói ấy quá cường
điệu. Tôi vẫn còn nhớ, cách đây vài tuần, chính Lon Nol đã nhắc lại những điều
đó khi yết kiến tôi tại Pháp.
Cái lý do mà bọn gây rối đưa ra
bào chữa cho vụ đập phá các sứ quán Việt Nam là sự có mặt của quân đội Việt
Cộng và Việt Minh trên lãnh thổ Campuchia tại các khu vực biên giới. Nhưng Lon
Nol thừa biết hơn ai hết là nếu thi thoảng có một số đơn vị quân giải phóng của
Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam qua lại những vùng đất của
Campuchia, thì họ cũng chẳng làm điều gì hại cho chúng tôi cả. Hơn nữa, dù ở
đâu thì mục tiêu của họ cũng là nhằm vào Sài Gòn chứ không phải Phnompenh. Các chiến
sĩ Quân giải phóng chiến đấu để giải phóng đất nước của họ, chứ không phải để
xâm lược đất nước chúng tôi. Từ nhiều năm nay, chúng tôi đã biết nhưng vẫn
không có phản ứng gì trước sự qua lại của Quân giải phóng, cũng như trước kia
Marôc và Tuynidi vẫn từng để cho Quân giải phóng An-giê-ri qua lại trên lãnh
thổ của hai nước này thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Vả lại, các chiến
sĩ kháng chiến người Việt dù qua lại trên lãnh thổ Campuchia nhưng không hề
quấy rối nhân dân chúng tôi tại các khu vực biên giới. Họ chỉ mua những thứ cần
thiết và đều trả tiền sòng phẳng. Họ không hề đụng chạm đến phụ nữ nước tôi
Chính Lon Nol khi đưa quân lính của chế độ Sài Gòn vào đất Campuchia mới gây
tác hại cho nhân dân trong một cuộc chiến tranh khác hẳn tính chất.
Nhân dân chúng tôi không hề bị
xúc phạm vì sự có mặt tạm thời và không thường xuyên của “Việt Cộng” mà chính
là bom và đạn pháo của Mỹ đã gây thiệt hại cho chúng tôi. Người ta không bao
giờ nhìn thấy có Việt Cộng tại những khu vực Mỹ thường ném bom thường xuyên và
ác liệt.
Những xác chết tìm thấy sau
những trận bom ở Vây Riêng và những khu vực khác ở vùng biên giới đều là xác
những nông dân Campuchia, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Điều này đã được ghi
nhận trong phần lớn các bản báo cáo của Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát
đình chiến lập ra sau Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương năm 1954, sau khi tới điều
tra tại chỗ. Người Mỹ tại Nam Việt Nam, với hơn một triệu quân trong tay, trong
đó 500.000 là lính Mỹ, đã bất lực không khoá chặt được biên giới của phía họ,
thì Campuchia với 300.000 quân làm sao nổi việc này. Chính Lon Nol cũng đã từng
đồng ý với quan điểm này của tôi, nhưng nay lại phủ nhận. Nếu bây giờ Lon Nol
lại lợi dụng cái gọi là sự có mặt của Việt Cộng trên lãnh thổ Campuchia làm lý
do để thay đổi đường lối chính trị và thách thức tôi, thì quả là có một chuyện
gì đó nghiêm trọng đang xảy ra. Đó là điều tôi nghĩ tới nên tôi đã trả lời Chủ
tịch Pôtgorny là tôi có ý định tiếp tục chuyến thăm Matxcơva rồi sau đó sẽ đi
Bắc Kinh như đã định.
Dù sao, tôi cũng cần có thời gian để tìm hiểu cái gì đã xảy ra ở Phnompenh.
Sau này, có người cho rằng nếu
lúc đó tôi trở về Campuchia ngay, có thể tôi đã kịp thời nắm lại được quyền lực
trong tay. Đó cũng chỉ là dự đoán. Lúc này tôi đang cần ở lại Matxcơva nhằm
thảo luận với các nhà cầm quyền Xô-viết về một hiệp định viện trợ quân sự. Các
lực lượng Mỹ-nguỵ ở Nam Việt Nam đến từ phía Đông và bọn phản động Khơme Xơrây
do CIA vũ trang đến từ các căn cứ của chúng trên đất Thái Lan từ phía Tây đang
ngày càng thâm nhập thường xuyên vào lãnh thổ chúng tôi. Những vụ vi phạm vùng
trời Campuchia diễn ra hằng ngày. Một sự de doạ thật sự đang uy hiếp nhân dân
Campuchia. Từ năm 1963 tôi đã từ chối nhận viện trợ quân sự của Mỹ và cũng từ
đó đến nay các thiết bị quân sự không được thay thế, thiếu thốn đủ mọi thứ,
nhất là các phương tiện vận tải Các sĩ quan quân đội của chúng tôi đang nôn
nóng đề nghị nối lại viện trợ quân sự Mỹ. Nhưng tôi muốn hướng về Liên Xô. Tôi
dự định sẽ đề nghị Liên Xô cử tới Campuchia một phái đoàn viện trợ quân sự như
kiểu phái đoàn MAAG mà Mỹ đã áp dụng ở Sài Gòn. Phái đoàn Liên Xô này sẽ tới
Phnompenh thẩm định những nhu cầu về quân sự của chúng tôi và huấn luyện cho
quân đội chúng tôi sử dụng các vũ khí Liên Xô. Sau vài cuộc đàm phán, người Nga
đã chấp nhận đáp ứng mọi yêu cầu của chúng tôi. Nhưng lúc đó đã quá muộn.
Trước khi tôi rời Matxcơva lên
đường đi Bắc Kinh, Thủ tướng Kossyghin đã mở tiệc chiêu đã tôi rất trọng thể
tại điện Kremli. Sau bữa tiệc, chúng tôi vừa uống cà-phê vừa thảo luận về tình
hình Campuchia. ông Kossyghin nói:
- Ngài cần tìm mọi cách ngăn Lon
Nol và Sirik Matak, đừng để chúng đâm dao găm vào lưng Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam. Đây là thời điểm rất khó khăn cho các đồng chí Việt
Nam của chúng tôi đang chiến đấu giải phóng tổ quốc. Ngài hãy cố tìm cách loại
bỏ Lon Nol và Sirik Matak. Ngài đã từng biểu thị tinh thần chống đế quốc Mỹ, đã
từng thể hiện sự ủng hộ quý báu đối với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam. Ngài đã giữ một vai trò rất vẻ vang. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng
ngài.
Tôi hứa với ông Kossyghin là sự ủng hộ của tôi đối với sự nghiệp của Mặt trận
dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập của họ sẽ
không bao giờ giảm sút. Liền sau đó, tôi nhận được một bức điện của Thủ tướng
Chu Ân Lai bày tỏ sự lo ngại về những sự kiện vừa qua tại Phnompenh, ngày 17
tháng 3 sau cuộc thảo luận với Thủ tướng Kossyghin, tôi gửi một bức điện trình
Mẫu hậu, trong đó tôi viết:
“Phe xã hội chủ nghĩa cho rằng những sự kiện vừa qua ở Campuchia là một nguy cơ
trực tiếp đánh vào cán cân lực lượng giữa Mỹ và hệ thống xã hội chủ nghĩa. Thủ
tướng Chu Ân Lai vừa thông báo cho biết sự lo ngại của Trung Quốc trước tình
hình diễn biến ở Campuchia, nhưng vẫn giữ thái độ bình tĩnh trước việc sứ quán
Trung Quốc tại Phnompenh bị khiêu khích. Các vị lãnh đạo Liên Xô cũng cho biết,
họ cho rằng chính sách hiện nay của cánh hữu ở Phnompenh là cực kỳ nguy hiểm
đối với tương lai của đất nước Campuchia. Người Nga đã nói với con họ sẵn sàng
giúp mọi việc để khôi phục lại trật tự và nền trung lập của Campuchia. Con đã
cám ơn họ và trả lời rằng con tự dành cho mình quyền hành động theo lương tri
của một người Campuchia, vì lơi ích lâu dài của đất nước và nhân dân Campuchia.
Con cũng xin được nhấn mạnh một nhận xét của ông Kossyghin mà con cho là rất có
ý nghĩa. Ông Kossyghin đã nói với con: “Những đồng chí Việt Nam của chúng tôi
là những người có trí nhớ tốt. Họ sẽ không bao giờ quên sự ủng hộ của ngài
trong thời điểm rất khó khăn của cuộc đấu tranh của họ, cũng như họ sẽ không quên
hành động của các thế lực cực hữu Campuchia đã gây cho họ thêm khó khăn trong
giai đoạn quyết định của cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ. Nếu cánh hữu ở
Campuchia cứ tiếp tục những cuộc tiến công như vậy chống lại đồng minh của
chúng tôi ở Miền Nam Việt Nam, tôi cho rằng cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và
Campuchia sẽ không tránh khỏi. Con mong rằng những người có trách nhiệm dừng
chơi các trò phù thuỷ hiện nay ở Phnompenh hãy nghiền ngẫm kỹ những lời tuyên
bố này”.
Sau đó tôi được biết tin, Thái
hậu mẹ tôi đã cho gọi Lon Nol và Sirik Matak tới và bảo họ phải ngừng ngay
những hành động bạo lực chống Việt Nam. Họ tránh né bằng cách đề nghị cử một
phái đoàn đi Bắc Kinh gặp tôi để thương lượng. Thái hậu đã thay mặt tôi thẳng
thừng bác bỏ kiến nghị này, bởi vì không có vấn đề gì cần phải đàm phán cả mà
là phải ngừng ngay những hành động đi chệch Hiến pháp trung lập của Campuchia đã từng giữ cho
Campuchia khỏi lao vào một cuộc chiến tranh. Thái hậu cũng tỏ vẻ rất bất bình
trước việc đập phá các sứ quán Việt Nam ở Phnompenh, đòi Lon Nol, Sirik Matak
phải xin lỗi bằng văn bản và bồi thường những thiệt hại đã gây ra.
Sau khi gửi điện về nước, tôi lại tiếp tục thảo luận với các nhà lãnh đạo
Xô-viết về tình hình Campuchia và những hậu quả có thể xảy ra giữa Campuchia và
Việt Nam. Đây cũng là lần đầu tiên, tôi được gặp và trực tiếp thảo luận với ông
Leonit Brznev, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô.
Tôi cũng được biết tin, tại Phnompenh một số sĩ quan mà tôi cho là trung thành
đã bị bắt giữ vì dính líu vào một âm mưu chống Lon Nol và Sirik Matak. Cuộc
khủng hoảng ở Campuchia đang trầm trọng đúng như tôi nghĩ. Chiều ngày 18-3-1970
tôi lên đường đi Bắc Kinh. Trên đường ra sân bay, Thủ tướng Kossyghin ngồi cùng
xe ngoảnh về phía tôi, nói:
- Quốc hội của ngài vừa mới quyết định
tước bỏ mọi quyền lực của ngài. Thế là thế nào?
Tôi trả lời:
- Thế là tôi đã bị truất phế.
Ông Kossyghin hỏi:
- Ngài định làm gì bây giờ?
Tôi đáp:
- Tôi sẽ chiến đấu chống lại. Nhất định như vậy.
Lúc đó, ông Kossyghin mới nói thêm:
- Ngài có thể tin vào sự ủng hộ của Liên Xô cho tới thắng lợi cuối cùng. Khi
ngài còn nắm giữ quyền lực ở Phnompenh, Trung Quốc đã giúp đỡ ngài. Còn bây
giờ, mọi việc đã thay đổi, ngài hãy coi thử Trung Quốc sẽ làm gì.
Tôi cám ơn và nói:
- Tôi đi Bắc Kinh để tìm sự giúp đỡ của bạn cũ là Chu Ân Lai rồi sẽ quay trở
lại Matxcơva.
Ông Kossyghin nói tiếp:
- Ngài muốn làm gì, xin tuỳ ý. Trong mọi trường hợp, ngài vẫn có thể tin cậy
vào chúng tôi.
Sau đó, tôi báo cho những người
Campuchia cùng đi theo là tôi đã bị truất phế; nhưng do Matxcơva và Bắc Kinh
không có ý công nhận chế độ mới ở Campuchia nên tôi có ý định tổ chức một cuộc
kháng chiến chống lại bọn tiếm quyền.
Chủ tịch Xô-viết tối cao Liên xô Pôtgorny đã dành chiếc chuyên cơ của ông cho
tôi sử dụng.
Đây là một chiếc máy bay rất
tiện nghi và rộng rãi, có thể làm việc ngay trong khi đang bay, khiến tôi rất
vui mừng. Thế là mọi việc đã rõ.
Những nghi ngờ của tôi đã trở
thành sự thật hiển nhiên. Lon Nol đã lộ mặt phản bội. Thà đó là Sirik Matak thì tôi không ngạc
nhiên lắm, nhưng đây lại là cả Lon Nol. Bởi vì từ thủa nhỏ Sirik Matak đã thù
ghét tôi. Hắn nghĩ rằng, đáng lẽ người nối ngôi vua, leo lên ngai vàng phải là
ông bác hắn, tức Hoàng thân Sisowath Mônirét, chứ không phải là tôi. Tôi cũng
biết, Sirik Matak đã từng có quan hệ mật thiết với CIA từ hồi làm đại sứ ở Nhật
Bản và ở Philippin. Đến nay, Sirik Matak lôi kéo được cả Lon Nol thì quá là một
cú “sốc” đối với tôi, và nếu còn có nhiều tên nữa theo hắn thì thật là tệ hại.
Sau khi máy bay cất cánh, tôi thảo luận với Pen Nouth người từng nhiều lần giữ
chức Thủ tướng trong chính phủ Vương quốc Campuchia và những người cùng đi về
quyết định ra lời kêu gọi kháng chiến đối với nhân dân trong nước. Vợ tôi là
Monic, lúc này cũng vừa mới an ủi số người thân trong gia đình, nói với tôi:
- Ông đã làm việc quá nhiều rồi. Ông đã cống hiến cả cuộc đời cho đất nước. Vậy
mà bây giờ họ lại truất phế ông. Tôi nghĩ có lẽ ta nên rút lui, sang Pháp nghỉ
ngơi còn hơn...
Tôi nói ngay:
- Không! Tình hình tồi
tệ hiện nay không phải lúc để ta đi trốn. Lịch sử sẽ lên án ta, nếu ta để cho
đất nước Campuchia trở thành một nhà nước độc tài quân sự, và hơn thế nữa, còn
là một thuộc địa. Trong suốt cả cuộc đời, ta đã từng ước mơ một nền độc lập cho
đất nước. Ta đã giành giật được độc lập từ tay Pháp không phải để rồi nay lại
vứt bỏ. Chế độ Hoàng gia không được tránh né cuộc đấu tranh này. Nhất định đế
quốc Mỹ sẽ thất bại trên toàn cõi Đông Dương. Ta phải tham gia vào cuộc đấu
tranh chống Mỹ. Nhất định Mỹ sẽ bị đánh bại bởi những người Việt Nam và Khmer
Đỏ. Pathét Lào cũng sẽ giành được nước Lào. Trách nhiệm của Hoàng gia là phải ở
lại cùng với nhân dân Campuchia.
Monic hiểu ra ngay. Chúng tôi
cùng ngồi vào bàn làm việc. Monic ngồi bên cạnh tôi. Pen Nouth ngồi trước mặt
tôi. Trong lúc máy bay tiếp tục bay trên độ cao mười ngàn mét qua vùng trời
Siberi, tôi bắt đầu soạn thảo bản Tuyên bố và Lời kêu gọi kháng chiến, nay đã
trở thành những văn kiện lịch sử Trong suốt chuyến bay đêm, không ai trong
chúng tôi chợp mắt ngủ vì mọi người đều hồi hộp, xúc động. Monic, Xamđec Pen
Nouth và tôi làm việc không nghỉ để hoàn thành bản Tuyên bố kháng chiến. Nhưng
đến ngày 23-3-1970 văn bản này vẫn chưa công bố vì chúng tôi còn theo dõi tình
hình diễn biến ở Campuchia trước khi khởi sự. Khi máy bay hạ cánh xuống sân bay
Bắc Kinh, phần lớn các văn kiện đã được chúng tôi thảo xong.
Tôi vừa bước xuống chân cầu thang máy bay đã được Thủ tướng Chu Ân Lai ôm hôn
nồng nhiệt.
Ông đã hiểu biết tôi khá rõ, nên
không hoài nghi gì về việc tôi sẽ phát động kháng chiến, và ông đã huy động
toàn bộ đoàn ngoại giao chào đón tôi tại sân bay. Ông nói với tôi: “Ngài vẫn là
Quốc trưởng duy nhất của Campuchia, chúng tôi không công nhận bất cứ ai khác”.
Ông cùng cho biết, ông đã chỉ thị cho Tân Hoa xã công bố trên toàn bộ báo chí danh
sách tất cả các vị đại sứ và đại biện lâm thời ra đón tôi, để nhấn mạnh tôi vẫn
là Quốc trưởng Campuchia. Có tới 41 nước cử đại diện đi đón tôi tại Bắc Kinh
hôm đó.
Cùng ngồi trên xe rời khỏi sân
bay, ông Chu Ân Lai nói:
- Tôi đã thảo luận tình hình với Mao Chủ tịch. Tôi chỉ xin hỏi ngài một câu
thôi: “Ngài có ý định chiến đấu không?”.
Tôi đáp ngay:
- Tôi sẽ chiến đấu tới cùng!
Ông Chu Ân Lai nói tiếp:
- Thế thì chúng tôi hoàn toàn ủng hộ ngài.
Nhưng sau đó ông lại khuyên tôi
suy nghĩ thêm hai mươi bốn giờ nữa cho thật chín chắn, vì “con đường kháng
chiến sẽ lâu dài khó khăn và rất nhiều trở ngại trước khi đi tới thắng lợi cuối
cùng”. Tôi đáp:
- Suy nghĩ của tôi cũng giống như ý nghĩ của tất cả những người Khơme yêu nước.
Họ sẽ đi cùng với tôi và chúng tôi sẽ sát cánh chiến đấu chống chủ nghĩa đế
quốc và bọn tay sai.
Tôi cũng khẳng định lại với Chu
Ân Lai quyết tâm này vào ngày hôm sau, đúng như ông yêu cầu.
Báo chí phương Tây hồi đó viết
rằng sau khi xảy ra cuộc đảo chính của Lon Nol, Trung Quốc đã do dự nhiều ngày,
thậm chí nhiều tuần trước khi đi đến quyết định ủng hộ tôi kháng chiến. Nhưng
sự thật là chỉ hai mươi bốn giờ sau khi tôi chính thức hạ quyết tâm kháng
chiến, tôi đã công khai tuyên bố trên báo chí Trung Quốc chuyện này rồi. Nếu
không được Trung Quốc đảm bảo ủng hộ thì sao tôi có thể công bố quyết tâm kháng
chiến được?
Sự thật là trong hai ngày 20 và
21-3 tôi đã công khai tuyên bố kháng chiến và chính thức đọc bản tuyên bố kháng
chiến ngày 23-3-1970.
Tôi tới Bắc Kinh hôm trước thì hôm sau Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từ Hà Nội
tới Bắc Kinh. Ông chào mừng tôi nồng nhiệt và nói to: “Thế là từ bây giờ chúng
ta cùng là bạn chiến đấu rồi! Chúng tôi rất tự hào được nhìn thấy ngài đứng
trong một chiến hào cùng với chúng tôi”.
Hồi đó, báo chí phương Tây
loan tin, ông Phạm Văn Đồng đã “thương lượng” với tôi do ông Chu Ân Lai “đứng
làm trung gian dàn xếp”. Thật là một sự xuyên tạc. Chúng tôi đã từng đoàn kết
nhất trí với nhau trong nhiều vấn đề, và những hoàn cảnh hiện nay lại càng gắn
bó chúng tôi chặt chẽ hơn nữa.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng bắt đầu ngay câu chuyện bằng việc hỏi tôi:
- Chúng tôi có thể giúp đỡ ngài như thế nào?
Tôi nói:
- Trung Quốc đã hứa giúp chúng tôi vũ
khí. Chúng tôi không thiếu người chiến đấu nhưng đang rất cần huấn luyện viên
quân sự, chúng tôi thiếu cán bộ quân sự có kinh nghiệm chiến đấu. Việt Nam có
những cán bộ quân sự giỏi nhất thế giới về kiểu chiến tranh mà chúng tôi sẽ
tiến hành.
Ông Phạm Văn Đồng trả lời ngay:
- Tôi sẽ nói với Tướng Giáp gứi tới giúp các ngài những cán bộ xuất sắc.
Tiếp đó, chúng tôi thảo luận kỹ về các biện pháp tốt nhất nhằm phối hợp cuộc
đấu tranh giữa nhân dân các nước Đông Dương. Chính qua cuộc thảo luận này tôi
nẩy ra ý định tổ chức một cuộc hội nghị cấp cao nhân dân các nước Đông Dương,
và sau đó trong hai ngày 24 và 25-4-1970 hội nghị này được tiến hành tại miền
Nam Trung Quốc, trong khu vực tiếp giáp với Đông Dương. Mục đích chính của hội
nghị này là phối hợp cuộc kháng chiến của nhân dàn ba nước Việt Nam, Lào,
Campuchia trên bán đảo Đông Dương.
Sau cuộc hội nghị nhân dân Đông
Dương, tôi còn được thảo luận lâu tới hai giờ với Chủ tịch Mao Trạch Đông trước
khi Chủ tịch tới Thiên An Môn dự lễ kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5-1970. Ông
Mao hỏi tôi rất lâu về Lon Nol mà ông đã được gặp hồi năm ngoái khi Lon Nol
được cử tới Trung Quốc dự lễ kỷ niệm 20 năm thành lập nước Cộng hoà nhân dân
Trung Hoa. Ông cho biết, hồi đó Lon Nol chưa gây một ấn tượng gì lớn. Nay ông
muốn biết tất cả những gì vừa xảy ra ở Phnompenh và vai trò của tôi trong các
vấn đề của Campuchia. Ông Mao nói với tôi:
- Tôi thích bắt tay một ông Hoàng yêu nước như ngài hơn là những nguyên thủ
quốc gia thường tự nhận là “những người con của nhân dân” nhưng không làm gì
cho dân cả. Ngài đã giữ một vai trò rất đáng ca ngợi. Ngài xứng đáng trở thành
một đảng viên cộng sản.
Đó là lời biểu dương to lớn nhất
mà ông Mao dành cho tôi. Ông tiếp tục nói:
- Ngài cần những gì, cứ nói với chúng tôi. Chúng tôi có cái gì, các ngài cũng
có cái đó. Tất cả những gì chúng tôi tặng các ngài không thấm vào đâu so với sự
cống hiến của ngài trên cương vị lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân
Campuchia.
Ngay trong những ngày đầu tiên khi tôi tới Bắc Kinh, Thủ tướng Chu Ân Lai và
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đều khẳng định với tôi là sau ngày thắng lợi, Campuchia
sẽ là một nước độc lập, có chủ quyền, trung lập và tự do. Ông Chu Ân Lai nói:
- Nước Campuchia không phải là Trung Quốc. Trung Quốc là một nước cộng sản.
Campuchia vẫn là một nước trung lập.
Chính phủ Trung Quốc đã luôn luôn
tôn trọng tính độc lập trong suy nghĩ và hành động của tôi, chủ nghĩa bảo
hoàng, chủ nghĩa dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo và phẩm tước của tôi. Trung Quốc
đã giúp tôi một khoản viện trợ tài chính lớn, nhưng do tôn trọng tôi nên đã coi
đây là một khoản cho vay dài hạn, ba mươi năm sau khi hoàn toàn chiến thắng mới
phải thanh toán. Trong khi đó, đại sứ Pháp ở Bắc Kinh chuyển cho tôi một thông
điệp của chính phủ Pháp, cho biết nếu tôi rút lui sang Pháp thì chính phủ Pháp
sẽ dành cho tôi một toà biệt thự, một xe ô tô và một người lái hoàn toàn do tôi
tuỳ ý sử dụng. Tôi cám ơn và nói:
- Chính phủ Trung Quốc cũng
vừa mới cung cấp cho tôi những thứ đó và đó mới chỉ là sơ bộ bước đầu. Bước
tiếp theo chính là sự ủng hộ hoàn toàn sự nghiệp đấu tranh của chúng tôi. Tôi
đã nhận sự viện trợ kép này của Trung Quốc và xin từ chối sự giúp đỡ chỉ đơn
độc có một khoản của Pháp.
Sau khi đại sứ Pháp cáo từ, tôi bất giác nhớ lại một câu chuyện đã xảy ra tại
Pháp, lúc tôi đang điều trị và dưỡng bệnh trên đất nước này. Một hôm, tướng
Nhiek Tiêu Long là người đã từng nhiều lần giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng
Campuchia mời tôi đi ăn hiệu. Khi chúng tôi vừa ngồi vào bàn ăn, chợt nghe thấy
một người Pháp ngồi ở bàn gần đó nói với bạn:
- Này, nhìn kìa, Bảo Đại đấy?
Hắn ta mới béo tốt đẫy đà làm sao, cứ như một ông quan cai trị Thổ Nhĩ Kỳ.
Chính chúng mình phải đóng thuế để nuôi béo hắn đấy!
Họ đã nhầm tôi với Bảo Đại. Nhưng đó cũng là những lời cảnh cáo nếu tôi nhận sự
“giúp đỡ” của Pháp, sang nương nhờ trên đất Pháp. Còn ở Bắc Kinh, khi tôi đi
dạo trên đường phổ, mọi người đều nhận ra tôi ngay và nhiều người đã nói với
tôi: “Ngài đang cống hiến lớn lao cho đất nước. Ngài đã giúp đỡ nhân dân Việt
Nam anh hùng và bây giờ nhân dân Campuchia cũng đang kháng chiến dưới sự lãnh
đạo của ngài”. Tôi thích nghe những lời đó hơn được tưởng nhầm là Bảo Đại trong
số những người giàu có đang nghỉ mát ở vùng bờ biển miền Nam nước Pháp.
Trong số các nhà ngoại giao
đến chào khi tôi tới Bắc Kinh có cả đại sứ Campuchia là May Valentin. Khi tôi
bảo ông ta gửi đến văn phòng của tôi vừa mới thiết lập ở Bắc Kinh một số đồ
dùng cần thiết như máy chữ, máy sao chụp nhân bản, ông ta đã làm nhưng vài hôm
sau lại cho người đến lấy mang đi. Đồng thời ông ta còn báo tin vừa mới nhận
được một bức điện quan trọng của Lon Nol đòi tôi phải ngừng ngay các hoạt động
và chấm dứt không được tiếp tục ra các thông cáo. Tôi lập tức triệu tập cộng
đồng người Campuchia chung quanh tôi, đọc cho họ nghe bức điện của Lon Nol
trước sự có mặt của viên đại sứ. Sau khi đọc xong Valentin hỏi tôi:
- Ngài định trả lời Lon Nol như thế nào ạ?
Tôi đáp: “Như thế này này?”. Nói xong, tôi xé nát bức điện, ngay trước mặt viên
đại sứ. Valentin cúi nhặt những mẩu giấy vụn rồi bước ra khỏi phòng. Nhưng liền
sau đó, hắn tịch thu luôn hai hòm quà mà tôi thường vẫn dùng làm tặng phẩm
trong những chuyến đi thăm chính thức.
Từ ngày 5 đến ngày 7-4-1970,
Thủ tướng Chu Ân Lai thăm chính thức Triều Tiên.
Trong các bài diễn văn cũng như
trong bản Tuyên bố chung, Thủ tướng Chu Ân Lai và Chủ tịch, Nguyên soái Kim
Nhật Thành đều bầy tỏ sự ủng hộ hoàn toàn Mật trận dân tộc thống nhất
Campuchia, gọi tắt là FUNC (được thành lập ngay sau khi tôi ra lời kêu gọi
kháng chiến) và người đứng đầu là tôi.
Một tháng sau, Chính phủ đoàn
kết dân tộc Vương quốc Campuchia được thành lập tại Bắc Kinh, trong đó có ba Bộ
chính là Quốc phòng, Ngoại giao, Thông tin đặt trụ sở ngay trong vùng giải
phóng trên đất Campuchia. Lập tức, chính phủ này được ngay hai mươi nước công
nhận nhưng Liên Xô và phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đều chưa bầy
tỏ thái độ dứt khoát, kể cả Anbani, Rumani, Nam Tư. Người ta chê trách tôi là
quá phụ thuộc vào Trung Quốc, bởi vì một nửa số Bộ của chính phủ đều đặt trụ sở
trên đất Trung Quốc. Nhưng trên thực tế lại có một nửa số Bộ được cắm rễ ngay
trên lãnh thổ Campuchia. Ý nghĩ đầu tiên của tôi là chỉ ở lại thăm Bắc Kinh một
thời gian ngắn để đảm bảo có được sự viện trợ cụ thể của Trung Quốc trên văn
bản rồi sẽ lại đi Matxcơva. Tôi rất khâm phục thái độ của Việt Nam lúc đó đã
giữ được cán cân thăng bằng trong các quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô, đặt
Trung Quốc trên một đĩa cân và Liên Xô trên một đĩa cân khác. Đối với Campuchia
chúng tôi trong lúc này bàn cân hãy còn nghiêng về một phía. Trung Quốc không
phản đối việc Liên Xô ủng hộ sự nghiệp của chúng tôi, và điều đó có thể còn dẫn
đến đôi chút cải thiện trong quan hê Xô-Trung. Nhưng chúng tôi còn có thể làm
gì được nữa? Chúng tôi rất hài lòng vì Trung Quốc tôn trọng chủ quyền dân tộc
và độc lập tư tưởng của tôi, nhưng chúng tôi càng vui hơn nếu cả hai nước lớn
nhất trong phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc cùng sát cánh với
chúng tôi. Có hai nước này là chúng tôi có được tất cả các nước khác.
Thủ tướng Kossyghin đã nhấn
mạnh rất nhiều đến việc tôi cần ngăn cản bọn Lon Nol và Sirik Matak thọc dao
găm vào lưng Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Trên thực tế, chúng
tôi đã cố làm hết sức mình để tiến công phá vỡ sự liên minh giữa Lon Nol, Sirik
Matak với các lực lượng Sài Gòn và lực lượng không quân Mỹ từ lúc chúng tôi
chưa có được một sự viện trợ nào từ bên ngoài.
Liên Xô còn đòi hỏi gì ở chúng tôi hơn nữa? Cho tới lúc này Liên Xô vẫn duy trì
sứ quán của họ ở Phnompenh, duy trì những quan hệ ngoại giao với cái chế độ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét